Quy định về tạm giữ trong tố tụng hình sự

QUY ĐỊNH VỀ TẠM GIỮ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

LIÊN HỆ LUẬT SƯ: 1900 6194

1. Đối tượng bị áp dụng biện tạm giữ.

- Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp: Theo quy định tại khoản 1 Điều 81Bộ luật tố tụng hình sự như: người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn, khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.

- Người phạm tội quả tang: là người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện. Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp thường phải bị tạm giữ vì trong hầu hết các trường hợp thì quyết định bắt khẩn cấp cơ quan điều tra xác định cần phải ngăn chặn việc người đó trốn thoát hoặc cản trở điều tra

- Người phạm tội tự thú: Người phạm tội tự thú là người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa bị phát hiện, nay ra trình báo với cơ quan có thẩm quyền về việc phạm tội của mình. 

- Người phạm tội đầu thú: là người đã thực hiện tội phạm và đã bị phát hiện; người đã bi tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt trốn khỏi nơi giam giữ, người có nghĩa vụ phải chấp hành án phạt tù nhưng đã trốn thoát nơi cư trú nay ra đầu thú.

- Người bị bắt theo quyết định truy nã: Việc tạm giữ đối với người này chỉ đặt ra khi xét thấy cơ quan đã ra lệnh truy nã không thể đến ngay để nhận người bị bắt. Đối với người bị bắt theo lệnh truy nã, ngay sau khi lấy lời khai,cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo cho cơ quan đã ra lệnh truy nã để cơ quan này đến nhận người bị bắt.

Tuy nhiên không phải bất cử người nào bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, tự thú, đầu thú hoặc bắt người theo quyết định truy nã đều bị ra lệnh tạm giữ. Nếu phạm tội ít nghiêm trọng, sự việc đơn giản không có căn cứ cho rằng người phạm tội bỏ trốn, thông cung cản trở việc điều tra hoặc tiếp tục việc phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng thì có thể không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ.Trong trường hợp này cơ quan có thẩm quyền phải nhanh chóng lấy lời khai, xác minh những tình tiết có liên quan đến hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội để làm căn cứ ra quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn khác hoặc trả tự do cho người đó.

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị tạm giữ nếu có đủ căn cứ tại điều 86 BLTTHS năm 2003 nhưng chỉ trong truờng hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giữ nếu có căn cứ tại điều 86 BLTTHS năm 2003 nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

Khi người bị tạm giữ có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc có người thân thích là người tàn tật, già yếu không có người chăm sóc thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ có trách nhiệm đối với họ. Trong trường hợp người bị tạm giữ có nhà hoặc tài sản khác không có người trông nom, bảo quản thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ có nhiệm vụ trông nom, bảo quản. Quy định này thể hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người bị tạm giữ.

2. Người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ:

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp như: Cơ quan điều tra trong công an nhân dân, cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao…

- Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;

- Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng;

- Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển.

Như vậy, theo quy định BLTTHS 2003 thì cơ quan điều tra cấp huyện trở lên có quyền ra quyết định tạm giữ. Thực hiện quyết định này, khi nhận người bị bắt trong từng trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì UBND phường, xã, thị trấn phải tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, biên bản bắt người đang bị truy nã và giải quyết ngay tới cơ quan thẩm quyền.

3. Thời hạn tạm giữ và chấm dứt việc tạm giữ.

- Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày, kể từ khi Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá ba ngày. Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá ba ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn; trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.

- Trong khi tạm giữ nếu không đủ căn cứ để khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ lệnh tạm giữ trong những trường hợp sau đây:

Người bị tạm giữ không phải là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và không phải là người phạm tội tự thú, đầu thú.

Người bị tạm giữ có những vi phạm nhỏ (vi phạm hành chính), tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, chưa đến lúc phải truy cứu trách nhiệm hình sự.

Người bị tạm giữ là người là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nhưng phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc pham tội rất nghiêm trọng do vô ý; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do vô ý.

Người bị tạm giữ trong trường hợp phạm tội qủa tang nhưng sự việc phạm tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người tạm giữ có nơi cư trú rõ ràng và không có biểu hiện sẽ trốn hoặc cản trở việc điều tra.

Người bị tạm giữ bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội qủa tang nhưng đã có đủ tài liệu, chứng cứ kết luận họ không phạm tội.

Để được Luật sư tư vấn trực tiếp, vui lòng liên hệ:  1900 6194

Email: Luatsutoandan@gmail.com